Thị trường thế giới
Kết thúc phiên giao dịch 21/3, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sở Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng 0,06% (2 nhân dân tệ/tấn) lên mức 3.132 nhân dân tệ/tấn. Tương tự, giá quặng sắt tháng 5 trên Sàn Đại Liên (DCE) tăng 0,13% (1 nhân dân tệ) lên mức 761 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, giá quặng sắt trên Sàn Singapore giảm 0,6 USD về mức 98,82 USD/tấn.
Giá thép vẫn nằm trong xu hướng đi xuống do triển vọng về nhu cầu thép suy yếu, trong khi các nhà đầu tư cũng lo ngại nhiều về quy mô cắt giảm sản lượng mà chính phủ Trung Quốc đang cân nhắc.
Đầu tư vào lĩnh vực nhà ở tại Trung Quốc đã giảm gần 10% trong hai tháng đầu năm, trong khi giá nhà mới giảm so với tháng trước, làm dấy lên lo ngại rằng cuộc khủng hoảng bất động sản của nước này vẫn chưa chạm đáy.

Tình trạng suy giảm liên tục của nhu cầu bất động sản làm gia tăng lo ngại rằng các nhà phát triển bất động sản sẽ tiếp tục bị thanh lọc trong năm nay, khiến nguồn mua thép cây chính tại quốc gia tiêu thụ lớn nhất thế giới này sụt giảm. Dữ liệu mới nhất cho thấy đầu tư vào lĩnh vực nhà ở tại Trung Quốc đã giảm 9,8% so với cùng kỳ năm trước và giá nhà mới tiếp tục giảm so với tháng trước, làm gia tăng lo ngại về cuộc khủng hoảng bất động sản kéo dài.
Ngoài ra, các rào cản thương mại ngày càng gia tăng từ nước ngoài cũng đe dọa khả năng xuất khẩu của các nhà máy thép Trung Quốc, khi Đài Loan, Việt Nam, Hàn Quốc, Brazil và Mỹ đều đang xem xét hoặc áp thuế đối với thép nhập khẩu từ Trung Quốc.
Điều này đã thúc đẩy chính phủ Trung Quốc phát tín hiệu về việc cắt giảm công suất sản xuất thép trong năm nay, với thị trường hiện kỳ vọng các biện pháp có thể cắt giảm khoảng 50 triệu tấn thép khỏi nguồn cung.
Theo Tổng Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), trong hai tháng đầu năm, các công ty khai thác nội địa đã giảm sản lượng quặng sắt xuống còn 158,35 triệu tấn, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2024. Tương tự, lượng quặng sắt nhập khẩu vào Trung Quốc trong hai tháng đầu năm 2025 giảm 8,4% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 191,36 triệu tấn. Nguồn cung quặng từ nước ngoài vào Trung Quốc bị hạn chế do gián đoạn chuỗi cung ứng bởi thời tiết xấu ở Australia.
Thị trường trong nước
Trong nước, giá thép xây dựng tại các doanh nghiệp vẫn bình ổn. Cụ thể, giá thép CB240 của Hòa Phát ghi nhận 13.480đ/kg, trong khi thép CB300 ở mức 13.580đ/kg. Ở các doanh nghiệp khác, giá thép CB240 dao động khoảng 13.360 – 13.800đ/kg, trong khi thép D10 CB300 khoảng 13560 – 13850 đ/kg.
Tại khu vực miền Bắc
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 ở mức 13.430 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.740 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 ở mức 13.480 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.580 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 giữ ở mức 13.330 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 13.380 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 giá 13.580 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.690 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 giá 13.430 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giá 13.640 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 13.840 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 14.140 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 ở mức 13.530 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.640 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 giá 13.740 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giá 13.790 đồng/kg.
Tại khu vực miền Nam
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 ở mức 13.480 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giữ giá 13.580 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 giá 13.380 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 13.480 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 13.400 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 13.750 đồng/kg.